Tuesday, May 5, 2015

DN là chủ nhân thực sự của PCI

DN là chủ nhân thực sự của PCI

(DĐDN) - Bảng xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2014 vừa được công bố. Đây cũng là năm thứ 10 VCCI thực hiện công việc xếp hạng các địa phương dựa trên đánh giá của cộng đồng DN. Trao đổi với DĐDN, TS Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch VCCI khẳng định: sự thành công của PCI chính là đã phản ánh trung thực tiếng nói của cộng đồng DN Việt Nam về môi trường kinh doanh ở các địa phương.

- Để khái quát về hành trình 10 năm của PCI, ông muốn nhắc tới những điều gì, thưa ông?
Tôi muốn nhắc đến năm con số ấn tượng trong hành trình PCI 10 năm qua.
Thứ nhất, trên 88.000 lượt DN đã tham gia trả lời khảo sát của PCI trong suốt 10 năm qua. Như vậy, nếu tính trên số lượng DN đang hoạt động tại Việt Nam, cứ 5 DN thì có 1 DN từng tham gia trả lời PCI. Đây là mẫu điều tra DN lớn nhất ở Việt Nam, chỉ sau cuộc tổng điều tra của cơ quan thống kê nhà nước.
Thứ hai, là 147 văn bản liên quan đến PCI được các tỉnh, TP ban hành để cải thiện môi trường kinh doanh.
Thứ ba, là 63 tỉnh, TP đã ban hành văn bản về PCI. Có thể thấy, PCI đã làm nên một tác động mang tính toàn quốc về chương trình hành động về cải thiện môi trường kinh doanh thông qua các chỉ số của PCI. Tôi cho rằng, chính tác động tích cực của PCI trong cải thiện môi trường kinh doanh các tỉnh là cơ sở để từ năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã đưa PCI vào Nghị quyết 19 với tư cách là một nhiệm vụ và giải pháp để cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của các địa phương. Cũng phải nói rõ, PCI được xây dựng trên cơ sở ý kiến của cộng đồng DN tư nhân đang hoạt động trên 63 tỉnh, thành. Để đảm bảo ý kiến của DN được khách quan nhất, chúng tôi luôn tuân thủ nghiêm ngặt phương pháp thống kê quốc tế và giữ được tính độc lập của nghiên cứu.
Hai con số ấn tượng còn lại là 257 hội thảo về PCI và 1 triệu lượt bài báo và bản tin trên internet đã đăng tải các vấn đề liên quan đến PCI. Tôi cho rằng, những con số này đã khắc họa sinh động hành trình của PCI trong nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh Việt Nam 10 năm qua.
- Trong hành trình này, điều gì khiến ông và những đồng sự tâm đắc nhất?
Chúng tôi vẫn nói với nhau rằng, PCI là một hiện tượng trong quá trình cải cách của Việt Nam.
Tôi còn nhớ, khi công bố bảng xếp hạng PCI năm đầu tiên, vào năm 2005, đã có ý kiến đặt vấn đề rằng, VCCI đứng ở góc độ nào mà dám chấm được các địa phương. Lãnh đạo nhiều địa phương tuyên bố không quan tâm đến bảng xếp hạng và nghi ngờ các phương pháp đánh giá. Nhiều ý kiến phản đối lên Chính phủ.
Nhưng rất may, trong một cuộc họp Chính phủ, sau Lễ công bố PCI 2005, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải khi đó đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm cơ quan chính quyền phải quen với sự góp ý của người dân thì mới tiến bộ được.
Đến giờ, PCI đã trở thành một tiêu chí đánh giá nỗ lực cải thiện của chính quyền địa phương, công cụ giám sát hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương, thậm chí là động lực cho các quyết định cải cách, thay đổi của từng công chức thực thi. Tuy vẫn còn những ý kiến chưa đồng tình, thậm chí vẫn có lãnh đạo địa phương xin rút ra khỏi Bảng xếp hạng, nhưng rõ ràng, đã có thay đổi lớn trong tư duy trong các lãnh đạo chính quyền địa phương, giới công chức nhà nước về vai trò và tiếng nói của khu vực DN tư nhân.
Đặc biệt, với sự hỗ trợ của Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Việt Nam đã góp một sáng kiến vào công cuộc cải cách môi trường kinh doanh toàn cầu khi PCI “made in Việt Nam” đã được “xuất khẩu” và bước đầu triển khai tốt ở 11 nước trên thế giới. Trong số này, có những nền kinh tế đang cải cách rất mạnh mẽ như Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia... Có thể nói, PCI đã làm nên nhiều điều kỳ diệu!
- Theo ông, điều gì đã làm nên câu chuyện thành công mang tên PCI?
Phải nói ngay rằng, cộng đồng DN, những nhà đầu tư đã làm nên thành công của PCI trong 10 năm qua. Hay nói một cách khác, chính DN, nhà đầu tư mới chính là chủ nhân thực sự của bảng xếp hạng PCI. Còn VCCI và USAID là người thư ký trung thành ghi lại và thể hiện những ý kiến của họ trên Bảng xếp hạng PCI được công bố thường niên.
Trong 10 năm qua, đã có tới trên 88.000 lượt DN đã tham gia khảo sát của PCI. Tôi biết, không ít DN đã miệt mài điền vào lá phiếu trong cả 10 lần Dự án PCI thực hiện khảo sát. Họ tiếp tục gửi gắm niềm tin với chúng tôi vì họ đã nhìn thấy những tác động tích cực của PCI tới địa phương nơi họ đang đầu tư, kinh doanh. Trong bối cảnh hiện nay, niềm tin của DN là vô cùng quan trọng.
Tất nhiên, không thể không nhắc tới sự ủng hộ của Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương và các cơ quan truyền thông. Rất nhiều sáng kiến, những điển hình tốt trong PCI đã được lan tỏa rộng thông qua sự nhiệt tình của các địa phương và sự tuyên truyền của báo chí.
Chúng tôi rất mong, PCI sẽ đồng hành với cộng đồng DN và các cấp chính quyền khép lại khoảng cách giữa chính quyền và DN, bảo đảm các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ hơn những thách thức mà DN tư nhân trong nước hay các nhà đầu tư nước ngoài phải đối mặt để từ đó có giải pháp hiệu quả. Những cải cách thực sự của môi trường kinh doanh Việt Nam sẽ bắt đầu từ chính những thay đổi của từng vị trí công chức thực thi.
- Trên thực tế, lãnh đạo các địa phương đang phải chịu sức ép khá nặng nề về thứ hạng trong các bảng PCI sau mỗi lẫn công bố, thưa ông?
Để nói về sức ép mà PCI tạo ra, tôi muốn nhắc lại lý do vì sao VCCI lại xây dựng và thực hiện Bảng xếp hạng PCI công bố thường niên.
Vào năm 2005, Việt Nam đã có 136.000 DN tư nhân được thành lập theo Luật DN năm 2000. Mặc dù số này đã gấp 6 lần so với 9 năm trước đó, song khi đó, VCCI phát hiện ra rằng, sự phát triển DN tư nhân không đồng đều giữa các địa phương. 60% số DN tư nhân tập trung ở 11 tỉnh (trong số 64 tỉnh vào năm 2005). Điều đáng nói là một số địa phương có sự tương đồng về địa lý, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực - các điều kiện cứng để hỗ trợ DN làm ăn, song lại có tốc độ DN phát triển rất khác nhau. Ví dụ như cùng quanh Hà Nội, khi đó DN ở Vĩnh Phúc, Hưng Yên phát triển tốt trong khi DN ở Hà Nam lại rất kém. Tương tự khi so sánh Bình Dương với Bình Phước, Long An...
PCI tạo áp lực nhưng cũng tạo ra cảm hứng để cải cách.
Cũng phải nói thêm, năm 2005 là năm đầu của quá trình phân cấp mạnh mẽ từ chính quyền TƯ xuống chính quyền địa phương trong điều hành kinh tế. Vì vậy, chúng tôi phát hiện ra rằng, sự khác biệt này nằm ở năng lực điều hành kinh tế của chính quyền địa phương. PCI đã ra đời để đo đếm năng lực này thông qua sự đánh giá, cho điểm của cộng đồng DN. PCI có lẽ là công trình nghiên cứu đầu tiên lượng hóa chỉ số về sự hài lòng của người dân và DN với cấp chính quyền. Điều này cũng có nghĩa, sự thăng hay tụt hạng sẽ là áp lực rất lớn với những lãnh đạo chính quyền coi trọng sự hài lòng của người dân, của DN. Có nhiều người nói với tôi rằng, PCI đã tạo nên áp lực để chính quyền địa phương cải cách, thay đổi chính hành vi, suy nghĩ của mình, từ cấp lãnh đạo đến từng công chức nhà nước. Mà đây chính là điều kiện tiên quyết để phát sinh ra những sáng kiến thực tiễn tốt.
Có lẽ phải nói đầy đủ là PCI tạo áp lực nhưng cũng tạo ra cảm hứng để cải cách.
- Nhưng để tiếp tục tạo nên những ấn tượng thành công mang tên PCI 10 năm tới chắc chắn không dễ dàng, thưa ông?
Bản thân PCI cũng sẽ phải cải tiến, để đảm bảo PCI không chỉ đưa ra dư địa để cải cách mà còn xác định giải pháp cho những dư địa đó. Điều này các địa phương đang rất cần. Hơn thế, trong 10 năm qua, PCI mới phát hiện ra những ngôi sao của cải cách, những điển hình tốt trong điều hành. Chúng tôi muốn làm được nhiều hơn thế, đó là phát hiện và nhân rộng những sáng kiến của những người thực thi công vụ. Chính họ sẽ xóa dần khoảng cách giữa văn bản và thực tế thi pháp các quy định pháp luật hiện nay. Để hiện thực hóa các mong muốn này, VCCI sẽ hỗ trợ cho các địa phương thực hiện DCI - chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, huyện. Có thể PCI sẽ trở thành tiêu chí đã đánh giá chất lượng công chức hàng năm - thông qua sự hài lòng của DN, nhà đầu tư trên địa bàn.
Ở cấp trung ương, VCCI sẽ hoàn thiện bộ chỉ số MEI - đánh giá các bộ, ngành trong thực thi pháp luật mà chúng tôi đã khởi động từ năm 2011. Để MEI đạt được tác động lan tỏa được như PCI là một thách thức với VCCI nhưng chúng tôi quyết tâm làm. Một nhà nước pháp quyền phải đảm bảo yêu cầu cao nhất là sự tuân thủ trong thực thi pháp luật.
Cũng phải nhấn mạnh rằng, công cuộc cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam đang có nhiều điểm thuận lợi để VCCI thực hiện các kế hoạch của mình. Mấu chốt quan trọng nhất mà chúng tôi sẽ phải tuân thủ trong quá trình thực hiện các công việc này, đó là coi trọng và trung thành với các ý kiến đánh giá, xếp hạng của người dân, của DN.
- Xin cảm ơn ông!

Lợi thế của môi trường kinh doanh VN trong tương quan với các quốc gia cạnh tranh trong năm 2013 & 2014


Điểm yếu của môi trường kinh doanh VN trong tương quan với quốc gia cạnh tranh trong năm 2013 & 2014

Lựa chọn tin cậy của các nhà đầu tư

Ông Lê Hoàng Quân - Chủ tịch UBND TPHCM:
Năm 2014 TP HCM dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài với gần 5.000 DN FDI trong tổng số hơn 238.000 DN. Riêng năm 2014, vốn FDI vào TP có sự tăng trưởng mạnh mẽ với 457 dự án được cấp mới (tổng vốn đăng ký là 2,88 tỷ USD, tăng 2,7 lần so với năm 2013).
Với sự đóng góp của cả các khu vực, thành phần kinh tế khác, TP HCM đã đạt một tốc độ tăng trưởng cao và tốc độ này được duy trì một thời gian dài, cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng. Nếu như năm 2000 tổng sản phẩm nội địa (GDP) TP đạt 5,3 USD thì đến năm 2014 đã đạt trên 40 tỉ USD (tăng 7,5 lần). Những kết quả tăng trưởng và đặc biệt kết quả về đầu tư nước ngoài của TP HCM có được là chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và nỗ lực của riêng TP trong thời gian vừa qua. Trong đó, có nỗ lực của TP để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Lãnh đạo TP HCM cam kết luôn đồng hành cùng các DN, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu hạ tầng, nguồn nhân lực và môi trường kinh doanh lành mạnh. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để TP HCM là lựa chọn tin cậy của các nhà đầu tư. TP sẽ tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ cho các nhà đầu tư ít nhất 30% thời gian. Đồng thời, tăng cường tiếp xúc, đối thoại để lắng nghe, giải quyết kịp thời các khó khăn vướng mắc của nhà đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh. TP sẽ chủ động kiến nghị TW ban hành các chính sách thuận lợi nhất cho DN phát triển sản xuất, kinh doanh.
Đồng hành cùng doanh nghiệp

Ông Huỳnh Đức Thơ - Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng:
Được xác định là “Năm DN Đà Nẵng 2014”, lãnh đạo TP đã chỉ đạo các cấp, các ngành quyết tâm đồng hành cùng DN. Nhiều giải pháp cụ thể đã được đưa ra trong nội dung Chương trình “Năm DN” ban hành theo Quyết định số 1136/QĐ-UBND ngày 24/02/2014. Trong đó, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa và công khai, minh bạch các thủ tục hành chính liên quan đến quá trình thành lập và hoạt động của DN là những việc làm cụ thể, thiết thực, đầy ý nghĩa.
Trong đó, việc minh bạch quy trình tiếp nhận, xử lý và đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến DN được UBND TP chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện. Nhiều thủ tục hành chính liên quan đến DN tiếp tục được đơn giản hóa trên địa bàn TP, như giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính đối với các thủ tục thủ tục cấp phép xây dựng, thủ tục cấp phép kinh doanh… Cùng với đó, TP cũng đẩy mạnh cải cách, không ngừng đổi mới để ngày càng phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của người dân, DN trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính không phải chỉ được chú trọng, quan tâm thực hiện trong “Năm DN”. Lãnh đạo TP xem đây là nhiệm vụ thường xuyên của công tác cải cách hành chính trong những năm tiếp theo.
Những nỗ lực trong công tác cải cách hành chính đã góp phần đưa Đà Nẵng thành địa phương đứng đầu cả nước năm 2 năm 2013, 2014 về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, đứng đầu về Chỉ số Cải cách hành chính, 6 năm liền đứng đầu chỉ số sẵn sàng Ứng dụng CNTT cấp tỉnh.
Không phải cuộc tranh đua thứ hạng

Ông Lê Viết Chữ - Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi:
Đối với tỉnh Quảng Ngãi, nỗ lực cải thiện chỉ số PCI không nhằm hướng vào cuộc tranh đua thứ hạng với các tỉnh khác mà đây chính là quá trình cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tốt hơn để thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng DN trên địa bàn. Và chúng tôi nhìn vào kết quả PCI như một cách “soi” lại bản thân để nỗ lực vượt lên chính mình trong thời gian tới.
Với nhận thức đó, và với tinh thần “đồng hành cùng DN”, lãnh đạo UBND tỉnh cùng các sở, ngành và địa phương đã có nhiều chương trình hành động và giải pháp chia sẻ khó khăn cho các DN trên địa bàn, như: cung cấp thông tin về thị trường, về tiếp cận nguồn vốn tín dụng, nhất là tạo điều kiện giúp cho các DN tiếp cận kịp thời các chính sách hỗ trợ từ Chính phủ… Nhờ đó, trong thời gian qua, mặc dù suy giảm kinh tế chung, Quảng Ngãi vẫn liên tục đón nhận nhiều nhà đầu tư lớn như Cty TNHH LD KCN Việt Nam - Singapore với dự án Khu phức hợp công nghiệp - dịch vụ - đô thị VSIP với tổng vốn đầu tư 3.800 tỉ đồng; dự án mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất... nâng tổng số dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi lên 250 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư khoảng 110.000 tỷ đồng và 32 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đầu tư hơn 4 tỉ USD.
Trong thời gian tới, tỉnh Quảng Ngãi xác định là sẽ tập trung thực hiện đẩy mạnh công tác chỉ đạo điều hành, tuyên truyền quán triệt nâng cao nhận thức của cán bộ, Đảng viên, công chức về chỉ số PCI; Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, cơ chế, chính sách thông thoáng, linh hoạt và phù hợp hơn với hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN.
Thân thiện với DN là ưu tiên hàng đầu

Ông Dương Ngọc Long - Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên:
Những nỗ lực cải cách hành chính cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đã tạo điều kiện rất tốt cho Thái Nguyên bứt phá trong thu hút đầu tư năm vừa qua. Kết thúc năm 2014, tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Nguyên đạt gần 20%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng  hơn 7 lần so với năm 2013. Kim ngạch xuất khẩu đạt 9 tỷ USD, tăng gấp 37 lần so với cùng kỳ. Đặc biệt, năm 2014, Thái Nguyên đang là tỉnh dẫn đầu trong cả nước về thu hút FDI. Lũy kế đến nay, Thái Nguyên đã thu hút được 75 dự án FDI với tổng vốn đầu tư là 6,9 tỷ USD, đứng thứ 10/63 tỉnh, TP có đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Thành công của Tập đoàn Samsung tại Thái Nguyên cũng như các nhà đầu tư trong và ngoài nước là minh chứng, thước đo rõ nhất cho những nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Những kết quả đã đạt được là nền tảng quan trọng để Thái Nguyên thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Và để đạt được các mục tiêu đề ra, Thái Nguyên sẽ tiếp tục nỗ lực thực hiện 3 khâu đột phá: Đột phá về công tác quy hoạch; đột phá về phát triển kết cấu hạ tầng trong đó chú trọng về hạ tầng giao thông; đột phá về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và đẩy mạnh cải cách hành chính. Với quan điểm “3 thân thiện” xuyên suốt là: Thân thiện với DN; thân thiện với người dân; thân thiện với môi trường, trong đó thân thiện với các DN là ưu tiên hàng đầu, vì DN phát triển được mới tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, tạo công ăn việc làm và tăng ngân sách Nhà nước.

Hương Giang thực hiện
Read More

Lại "nóng" chuyện giấy phép con

Lại "nóng" chuyện giấy phép con

(DĐDN) - Chỉ còn 2 tháng để rà soát và công bố những điều kiện kinh doanh còn hiệu lực theo quy định của Luật Đầu tư sửa đổi. Tuy nhiên, công việc đang khá trì trệ.



Chỉ còn 2 tháng để rà soát và công bố những điều kiện kinh doanh còn hiệu lực theo quy định của Luật Đầu tư sửa đổi. Tuy nhiên, công việc đang khá trì trệ. Ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) mới đây đã khơi mào cuộc tranh luận mới về giấy phép con khi đặt ra hàng loạt câu hỏi. 

Những câu hỏi ngỏ

Xử lý thế nào với các điều kiện kinh doanh vi phạm quy định hiện hành? Ai sẽ chịu trách nhiệm với thực trạng này? Tại sao các văn bản trái thẩm quyền vẫn có hiệu lực thi hành… Và vấn đề là tại sao người dân, doanh nghiệp vẫn âm thầm tuân thủ các quy định đó mà không có phàn nàn, khiếu nại gì?... Đó là hàng loạt câu hỏi mà ông Cung đặt ra mà ông cho rằng câu trả lời còn bỏ ngỏ. Phải nói rõ, ông Cung là người trong cuộc của cuộc chiến với giấy phép con 15 năm trước, từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2000 mở ra khái niệm về điều kiện kinh doanh và ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Chính ông cũng là cha đẻ của thuật ngữ “giấy phép con” - chỉ những điều kiện kinh doanh không đảm bảo đủ điều kiện tồn tại theo quy định của pháp luật.

Bởi vậy, việc ông Cung đặt ra hàng loạt câu hỏi chứng tỏ, vào thời điểm này, nỗ lực bãi bỏ giấy phép con vẫn đang là thách thức lớn trong việc thực thi pháp luật. Cho dù theo quy định của Luật Đầu tư sửa đổi sẽ có hiệu lực vào ngày 1/7/2015, điều kiện kinh doanh sẽ phải đảm bảo các tiêu chí cả về mục tiêu và thẩm quyền ban hành.
Thách thức mà ông Cung cho là "phép thử của cải cách" nằm ở chỗ, sau 3 tháng lấy ý kiến các bộ, ngành về danh mục điều kiện kinh doanh của 267 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chỉ có 3 bộ là Bộ Quốc phòng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Thông tin và Truyền thông gửi ý kiến hồi đáp.“Nhưng nội dung là đề nghị giữ nguyên, cho dù hiện nay nhiều điều kiện kinh doanh không còn phù hợp, không đúng thẩm quyền”, ông Cung cho biết. Điều đáng nói là cũng chỉ có 18 trong số hơn 400.000 doanh nghiệp đang hoạt động quan tâm và gửi ý kiến góp ý tới dự thảo danh mục này. Không hiệp hội doanh nghiệp nào có ý kiến phản hổi. “Tại sao lại có tình trạng thờ ơ như vậy”, Viện trưởng CIEM bức xúc khi nhấn mạnh tới 900 trang quy định về điều kiện kinh doanh mà ông và các đồng nghiệp đã thu thập được. Số lượng này chưa tính các quy định về hồ sơ, thủ tục, trình tự, thời hạn và cơ quan có thẩm quyền xác nhận đáp ứng điều kiện kinh doanh.

Lòng tin của doanh nghiệp

Thực ra, doanh nghiệp không hề thờ ơ. Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, việc cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh không nhận được phản hồi từ doanh nghiệp có lý do từ lòng tin. “Doanh nghiệp nói là họ góp ý nhiều, nhưng chuyển biến ít. Đơn cử như Đề án 30 về Chương trình Tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 có tới 25 nghị quyết được ban hành để triển khai thực hiện, nhưng theo khảo sát của chúng tôi, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp không giảm nhiều. Bên cạnh đó, cách thức tham vấn doanh nghiệp nếu chỉ đăng tải trên website và đợi doanh nghiệp góp ý thì không được. Họ là những người đang mải làm ăn, kinh doanh, lo sự tồn tại của một doanh nghiệp. Nếu không có cách thu hút sự quan tâm của họ, các doanh nghiệp sẽ không có thời gian và nhân lực cho việc góp ý chính sách”, ông Tuấn phân tích.

Với thực trạng hiện tại, công cuộc cải cách giấy phép kinh doanh đang khó khăn hơn nhiều so với 15 năm trước
Hơn thế, việc doanh nghiệp không nhiệt tình hợp tác trong việc rà soát điều kiện kinh doanh là còn vì sự trở lại quá dễ dàng của nhiều điều kiện kinh doanh, một hình ảnh ngược với cuộc chiến khó khăn với các giấy phép con.

Ông Tuấn kể lại cuộc hội thảo nóng bỏng vào cuối năm ngoái với sự tham gia của hơn 100 doanh nghiệp ngành in. Khi đó, các doanh nghiệp đã nói với VCCI rằng, họ ngỡ ngàng vi Chính phủ ban hành Nghị định 60/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về hoạt động in với hàng loạt điều kiện kinh doanh đã được bãi bỏ hơn 10 năm trước. Điều đáng nói là các doanh nghiệp không lý giải được tại sao họ lại phải xin giấy phép khi nhập khẩu thiết bị in hay tại sao người đứng đầu cơ sở in phải “có trình độ cao đẳng trở lên chuyên ngành in hoặc được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý hoạt động in”...

“Với thực trạng hiện tại, tôi cho rằng, công cuộc cải cách giấy phép kinh doanh đang khó khăn hơn nhiều so với 15 năm trước vì cơ quan quản lý chuyên ngành có nhiều kinh nghiệm hơn trong cách hồi sinh các loại giấy phép con! Có thể bằng các hình thức thông báo, hay đưa tên điều kiện kinh doanh vào nghị định, còn thông tư thì quy định nội dung điều kiện… Với quy trình soạn thảo thông tư hiện nay thì doanh nghiệp bất ngờ, thậm chí bị "đánh úp" với các điều kiện kinh doanh mới không phải là điều khó hiểu”, ông Đậu Anh Tuấn chia sẻ quan điểm khi tìm câu trả lời tại sao doanh nghiệp thờ ơ với các quy định về rà soát điều kiện kinh doanh.

Cũng cần nhắc tới thực trạng mà ông Bùi Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoach và Đầu tư) phát hiện, đó là không ít hiệp hội ngành nghề không muốn thay đổi hiện trạng về các rào cản trong kinh doanh. “Mục tiêu hoạt động của các hiệp hội này là bảo vệ các doanh nghiệp hiện có, nên barie càng vững chắc, họ càng thích vì giữ được miếng bánh của mình. Do vậy, các ý kiến góp ý mang tính cải cách phải trông vào VCCI là chính”, ông Bùi Anh Tuấn thẳng thắn nói.

Minh Anh

Read More

Đề xuất bỏ thuế 5% với gạo tiêu dùng trong nước

Đề xuất bỏ thuế 5% với gạo tiêu dùng trong nước

(DĐDN) - Văn phòng Chính phủ vừa ra thông báo Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp về tình hình xuất khẩu gạo. Theo đó, Thủ tướng yêu cầu cơ quan chức năng xem xét bỏ thuế giá trị gia tăng 5% đối với gạo tiêu dùng trong nước.

Gạo tiêu thụ trong nước đang gặp nhiều khó khăn

Thủ tướng giao Bộ Tài chính xem xét đề nghị về việc bỏ quy định áp thuế giá trị gia tăng 5% đối vớigạo sản xuất, tiêu dùng trong nước để có giải pháp xử lý bảo đảm công bằng và khuyến khích sản xuất, tiêu dùng gạo sản xuất trong nước; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 5/2015.
Ngoài ra, để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo, tiêu thụ tối đa lượng gạo hàng hóa trong dân, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), cơ quan liên quan tiếp tục rà soát, phân tích kỹ tình hình xuất khẩu gạo giảm tại từng thị trường trong những tháng đầu năm 2015; xác định rõ nguyên nhân, điểm yếu, hạn chế cần khắc phục; từ đó có những giải pháp cụ thể để giải quyết.
Bên cạnh đó, cần xác định hoạt động xúc tiến thương mại là nhiệm vụ trọng tâm, trong đó phát huy mạnh mẽ vai trò của VFA, các thương nhân xuất khẩu gạo, nhất là vai trò chủ đạo của Vinafood 1 và Vinafood 2; chú trọng các thị trường lớn, thị trường tập trung truyền thống (Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Indonesia), khôi phục các thị trường Châu Phi, Hồng Kông và mở thêm các thị trường tiềm năng (Nga, Châu Mỹ La tinh...).
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với VFA, các thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo nắm chắc nhu cầu thị trường trong nước và nước ngoài về số lượng, chủng loại, yêu cầu chất lượng gạo để phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các địa phương chỉ đạo, tuyên truyền, hướng dẫn sản xuất cho phù hợp về quy mô, cơ cấu giống, quy trình canh tác, yêu cầu về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với UBND các tỉnh biên giới, cơ quan liên quan rà soát các lối mở biên giới có đủ điều kiện để cho phép xuất khẩu gạo qua biên giới theo quy định; trường hợp vượt thẩm quyền, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ động theo dõi sát tình hình tiêu thụ và giá thóc gạo trên thị trường để xem xét, trình cấp có thẩm quyền biện pháp điều tiết thị trường gạo phù hợp,  kịp thời, theo đúng quy định pháp luật.
Tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, trong đó đối với ngành lúa gạo phải căn cứ nhu cầu, yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước để cơ cấu lại sản xuất lúa cho phù hợp, đẩy mạnh liên kết, đặt hàng với người nông dân; giảm diện tích sản xuất lúa hiệu quả thấp; có lộ trình và chính sách phù hợp để chuyển sang sản xuất những loại nông sản có hiệu quả kinh tế cao hơn.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với UBND các tỉnh biên giới, cơ quan liên quan rà soát các lối mở biên giới có đủ điều kiện để cho phép xuất khẩu gạo qua biên giới theo quy định; trường hợp vượt thẩm quyền báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng thương mại tạo điều kiện cho tiếp cận vốn, tín dụng với lãi suất ưu đãi để phục vụ sản xuất, kinh doanh lúa gạo.
Thông báo nêu rõ, những tháng đầu năm 2015, tình hình xuất khẩu gạo gặp khó khăn, số lượng và giá trị xuất khẩu gạo giảm đáng kể so với cùng kỳ năm 2014.

“Trước mắt phải tập trung vào các giải pháp về thị trường và tiêu thụ, về lâu dài, phải tính toán chuyển đổi cơ cấu sản xuất” - Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu và thúc giục Bộ NNPTNT tập trung và đẩy mạnh Đề án tái cơ cấu nông nghiệp.
Minh Nguyên
Read More

Thịt bò Pháp được phép nhập khẩu vào Việt Nam

Thịt bò Pháp được phép nhập khẩu vào Việt Nam

    (DĐDN) -  Cục Thú y, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn vừa có văn bản cho phép nhập khẩu thịt bò không xương dưới 30 tháng tuổi từ Pháp vào Việt Nam với điều kiện thịt nhập khẩu đạt các yêu cầu theo quy định của pháp luật Việt Nam.


    Cục Thú y Việt Nam vừa cho phép thịt bò Pháp được nhập khẩu vào Việt Nam
    Động thái này được đưa ra sau phiên họp Đối thoại kinh tế cấp cao Việt-Pháp thường niên diễn ra ngày 15/4. Ngoài vấn đề nhập khẩu thịt bò, tại cuộc đối thoại, phía Pháp cũng tiếp tục đề nghị Việt Nam dỡ bỏ các rào cản trong việc nhập khẩu táo Pháp vào Việt Nam. Phía Việt Nam cho biết sẽ xem xét vấn đề này trong thời gian tới.

    Đối thoại kinh tế cấp cao Việt-Pháp lần thứ ba vừa qua nhằm đánh giá các vấn đề còn tồn đọng trong quan hệ song phương và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hợp tác đồng thời triển khai cụ thể hợp tác kinh tế trong khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược mà Việt Nam và Pháp đã ký kết nhân chuyến thăm chính thức Pháp của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 9/2013.

    Tại phiên họp này, Việt Nam cũng đề nghị Pháp thúc đẩy Liên minh châu Âu (EU) sớm phê chuẩn Hiệp định khung về Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA) Việt Nam-EU và ủng hộ việc hoàn tất đàm phán Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) trong năm 2015.

    Minh Nguyên
    Read More

    Trốn đóng BHXH, BHYT: Sẽ bị xử lý hình sự

    Trốn đóng BHXH, BHYT: Sẽ bị xử lý hình sự

    (DĐDN) -  Chỉ một nửa số DN đang hoạt động đóng bảo hiểm xã hội, tình trạng nợ, chiếm dụng tiền xảy ra phổ biến… là những nguyên nhân khiến quỹ bảo hiểm có thể mất cân đối vào năm 2021. Vì vậy, việc bổ sung tội danh vi phạm về BHXH, BHYT vào Bộ luật Hình sự (sửa đổi) để có cơ sở xử lý tổ chức, đơn vị cố tình trốn đóng bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) là yêu cầu cần thiết.


    Hành vi trốn đóng, chiếm dụng tiền đóng BHXH gây hậu quả nghiêm trọng đang được xem xét, đề nghị đưa vào dự thảo bộ luật Hình sự
    Theo thống kê của BHXH VN đưa ra tại cuộc họp báo quý 1/2015, tổng số tiền nợ BHXH trên cả nước tính đến cuối năm 2014 là 7.279 tỉ đồng, trong đó nợ bảo hiểm xã hội 5.578 tỉ đồng (chiếm 76,63% tổng số nợ), còn lại là nợ bảo hiểm thất nghiệp và nợ BHYT. Đáng chú ý, trong số các đơn vị nợ BHXH, BHYT, có đến trên 8.000 đơn vị (với số lao động lên đến hơn 30.000 người) đã ngừng hoạt động. Chỉ trong 2 tháng đầu năm 2015, tổng số tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN đã lên tới 13.761 tỷ đồng (tăng 90% so với cuối năm 2014).
    Tình trạng vi phạm không thuyên giảm
    Có thể thấy, những năm gần đây, các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT liên tục gia tăng và phức tạp, xảy ra ở hầu hết các khâu như: Lập tờ khai cấp sổ BHXH lần đầu, ghi và xác nhận thời gian công tác; thu nộp BHXH, BHYT; quản lý hồ sơ, giải quyết chế độ chính sách... Chủ yếu ở các nhóm như: Vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT; vi phạm quyền thụ hưởng các chế độ BHXH, BHYT và liên quan đến việc quản lý, thực hiện BHXH, BHYT. Tình trạng trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN xảy ra ở hầu hết các địa phương ngày càng nhiều và phổ biến nhất vẫn ở DN ngoài quốc doanh.
    Đây là nguyên nhân gây thiệt hại lớn tài chính cho Quỹ BHXH, Quỹ BHYT, là tồn tại gây khó khăn rất lớn cho cơ quan BHXH nhiều năm nay, “chủ sử dụng lao động gần như đã bỏ rơi người lao động(NLĐ) với số tiền nợ BHXH, không thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm đối với NLĐ, không hợp tác với cơ quan BHXH để giải quyết chế độ đối với NLĐ” - ông Đỗ Văn Sinh - Phó Tổng Giám đốc BHXH VN chia sẻ với DĐDN.
    Bên cạnh đó, tình trạng làm giả, mua bán giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng chế độ BHXH cũng gia tăng. Đơn cử, tại tỉnh Bình Dương và Đồng Nai, cơ quan BHXH phát hiện gần 1.000 giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng chế độ BHXH làm giả, phô tô màu, tẩy xóa; Hải Phòng hơn 400 hồ sơ, Thanh Hóa hơn 200 hồ sơ, Thái Bình hơn 300 hồ sơ và Lào Cai gần 500 hồ sơ... bị làm sai lệch một số nội dung, trong đó chủ yếu là sai lệch thời gian đóng BHXH. Tình trạng lập khống hồ sơ về thời gian tham gia BHXH ở nhiều địa phương và có chiều hướng gia tăng.
    Ông Sinh cho biết, mặc dù ngành BHXH đã sử dụng hầu hết các biện pháp thu hồi nợ BHXH, BHYT như: thanh tra  kiểm tra, áp dụng chế tài xử phạt các hành vi nợ BHXH, BHYT, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT vẫn không thuyên giảm. Việc khởi kiện các đơn vị vi phạm BHXH, BHYT ra tòa cũng là một vấn đề nan giải, chưa nói đến việc thu hồi tiền nợ. Trong năm 2014, có 50 cơ quan BHXH địa phương tiến hành khởi kiện 5.832 DN, đơn vị với số tiền nợ BHXH, BHYT là 2.445 tỉ đồng, thu hồi được 621 tỉ đồng. Một số BHXH tỉnh, thành phố có tỷ lệ nợ cao gồm: Lai Châu (12,6%), Hà Nội (6,7%), Hòa Bình (6,4%), Bình Định (6,2%), Phú Yên (5,1%). Có thể nói, các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT đã gây hậu quả nghiêm trọng, không chỉ thiệt hại về vật chất, ảnh hưởng đến Quỹ BHXH, BHYT mà còn xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; ảnh hưởng đến an toàn, cân đối Quỹ cũng như làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật và mục tiêu về các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước. - ông Sinh cho biết.
    Một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ tăng nhanh được BHXH VN chỉ ra là do tình hình kinh tế còn khó khăn, sản xuất kinh doanh đình đốn, sức mua thị trường giảm, nhiều DN phá sản, giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động không có khả năng đóng BHXH. Tuy nhiên, còn một lý do quan trọng hơn theo các chuyên gia đó là do quy định mức lãi suất chậm đóng BHXH thấp hơn mức lãi suất của ngân hàng, vô tình khuyến khích DN cố tình để nợ tiền BHXH nhằm chiếm dụng. Trong khi đó, cơ quan BHXH chỉ có nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện những vi phạm về BHXH, nhưng lại không được quyền thanh tra, xử phạt nên hiệu quả công tác kiếm tra của cơ quan BHXH không cao.
    Có thể bị phạt tù
    Theo Trưởng ban Pháp chế - BHXH Việt Nam, Luật BHXH, Luật BHYT cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật BHXH, BHYT. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự hiện hành không quy định tội danh cụ thể đối với những hành vi này nên không xử lý được. Do vậy, đưa tội danh trốn đóng BHXH, BHYT vào Bộ luật Hình sự (sửa đổi) tới đây là yêu cầu cần thiết.
    Về vấn đề này, đại diện Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật - Bộ Tư pháp cho rằng, cần xác định rõ tên tội danh BHXH, BHYT bởi hai vấn đề này hoàn toàn khác nhau. BHXH là trốn đóng của người lao động, nhưng BHYT không chỉ liên quan đến người lao động mà còn liên quan đến nhiều đối tượng khác như trẻ em, người dân nghèo, học sinh. Vì vậy, hành vi chậm đóng, trốn đóng BHXH, BHYT cần quy định tên gọi chung và cần có định lượng số lượng trốn đóng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Với phương án trên khó truy cứu trách nhiệm người đứng đầu được, vì quyết định trốn đóng có thể là của tập thể. Tội danh vi phạm BHXH, BHYT rất giống tội danh vi phạm thuế nên chúng ta quy định ghép vào tội trốn thuế sẽ khả quan hơn...
    Theo đánh giá, Nghị định 95 xử phạt vi phạm hành chính về BHXH, BHYT đã quy định cụ thể số người lao động trốn đóng BHXH, BHYT, do đó không nên quy định số người trốn đóng ở Bộ luật Hình sự mà cần quy định số tiền trốn cụ thể. Bên cạnh đó cũng cần quy định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự khi đơn vị đã khắc phục được hậu quả trước khi xét xử- vị đại diện này chia sẻ.
    Ông Bùi Sỹ Lợi - Phó chủ nhiệm ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội khẳng định, sẽ bổ sung những quy định nhằm ngăn chặn sai phạm trong BHXH. Đặc biệt, hành vi trốn đóng, chiếm dụng tiền đóng BHXH gây hậu quả nghiêm trọng đang được xem xét, đề nghị đưa vào dự thảo bộ luật Hình sự. Ông Lợi cho biết, hành vi vi phạm pháp luật về BHXH sẽ bị xử lý theo nhiều cấp độ khác nhau tùy theo tính chất, mức độ vi phạm. Hiện nay, các cơ quan đang kiến nghị xem xét xử lý hình sự việc trốn đóng, chiếm dụng Quỹ BHXH gây hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, vấn đề không phải là xử lý hình sự hay không mà là phải đảm bảo tính công bằng, khách quan trong quá trình xử lý các hành vi vi phạm và các cơ quan thực thi pháp luật phải nghiêm minh, kiên quyết xử lý, theo đuổi các vấn đề sau khi thanh tra, kiểm tra, giám sát để buộc DN phải điều chỉnh hành vi và tuân thủ pháp luật - ông Lợi nói.
    Hành vi trốn đóng BHXH BHYT cần phải xử lý hình sự theo hai phương án:
    Thứ nhất, không đóng đủ từ 3 tháng trở lên với số tiền từ 100 triệu đồng thì bị phạt gấp 3 lần; phạm một trong các trường hợp (không đóng từ 300 đến dưới 600 triệu đồng; không đóng từ 50 -100 lao động; đã thu phần đóng nhưng không nộp), bị phạt tiền gấp 5 lần số tiền trốn đóng; gấp 7 lần với các trường hợp như trốn đóng từ 600 triệu đồng trở lên; từ 100 lao động trở lên; đã bị kết án về tội này mà chưa được xóa án tích...
    Thứ hai, phạt tiền từ 3 - 5 lần số tiền trốn đóng, phải cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 2 năm với tội trốn đóng từ 100 đến dưới 300 triệu đồng; trốn đóng từ 30 - 100 người gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này nhưng chưa hết thời hạn được coi là xóa vi phạm mà tiếp tục vi phạm. Phạt tiền từ 5 - 7 lần số tiền trốn đóng hoặc phạt tù từ 2 - 7 năm với hành vi có tổ chức, phạm tội nhiều lần, trốn đóng từ 300 đến dưới 1 tỷ đồng, không đóng từ 100- 300 lao động và gây hậu quả nghiêm trọng. Phạt tiền gấp 10 lần hoặc bị phạt tù từ 5- 10 năm với số tiền trốn đóng trên 1 tỷ đồng; trên 300 lao động không được đóng; gây hậu quả nghiêm trọng...
    Mai Thanh
    Read More

    Kinh tế TP HCM: Tiên phong đổi mới

    Kinh tế TP HCM: Tiên phong đổi mới

      (DĐDN) -  TP HCM đã có những đóng góp quan trong vào sự hình thành và hoàn thiện thể chế chính sách vận hành kinh tế thị trường của nước ta…

       TP HCM đã sử dụng quỹ đất đô thị như nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội
      Với tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) về sự đổi mới tư duy về thời kỳ quá độ đi lên CNXH của nước ta, chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần… cùng với yêu cầu thực tiễn cuộc sống của kinh tế TP, năm 1989, UBND TP đã ban hành Quyết định về các loại hình DN tư nhân, Cty trách nhiệm hữu hạn, Cty cổ phần để tạo điều kiện phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Đó chính là một trong những khuôn khổ pháp lý ban đầu tạo niềm tin cho kinh tế tư nhân, khuyến khích thành phần kinh tế này phát triển một cách hợp pháp. Đó cũng là cơ sở thực tiễn để Quốc hội khóa VII ban hanh hành Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Cty năm 1991.
      Nhân rộng cả nước các mô hình kinh tế
      Chủ trương khuyến khích và thúc đẩy đa dạng hóa sở hữu và các thành phần kinh tế, trong đó, có thành phần kinh tế tư nhân, là một chủ trương đạt kết quả nổi bật của TP; giúp khu vực kinh tế tư nhân phát triển và đến năm 2014 chiếm đến gần 59,7% GDP của TP, giải quyết việc làm cho 70% số lao động đang làm việc trên địa bàn…
      Việc nhân rộng ra cả nước các mô hình kinh tế xuất phát từ ý tưởng của TP, được thí điểm thành công tại TP có ý nghĩa quan trọng với kinh tế cả nước. Điển hình như thí điểm thành công việc hình thành khu chế xuất và khu công nghiệp tập trung. Khu chế xuất Tân Thuận là khu chế xuất đầu tiên tại Việt Nam được thành lập vào năm 1991, khu chế xuất Linh Trung được thành lập vào năm 1992.
      Bên cạnh đó là tổ chức sắp xếp lại hệ thống DN Nhà nước và cổ phần hóa DN Nhà nước: TP thực hiện thí điểm cổ phần hóa DN Nhà nước từ năm 1992. Cty cổ phần cơ điện lạnh (REE) là Cty được cổ phần hóa đầu tiên tại Việt Nam vào năm 1993. Đến năm 1996, cổ phần hóa DN Nhà nước đã trở thành chương trình chung của Chính phủ.
      TP Hồ Chí Minh cũng là nơi ra đời giao dịch chứng khoán thông qua Trung tâm Giao dịch chứng khoán TP HCM, sau này được gọi là Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM.
      Vào giai đoạn năm 1986 - 1990, nhiều tổ chức tìn dụng tập thể được thành lập dười dạng: quỹ tín dụng, hợp tác xã tín dụng, trung tâm tín dụng vào đầu tư và bản chất các tổ chức tín dụng này là hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần. Từ thực tiễn đó, TP HCM đã thí điểm thành lập ngân hàng cổ phần đầu tiên của cả nước - NHCP Sài Gòn Công thương vào ngày 16/10/1987, ngân hàng xuất nhập khẩu Eximbank được thành lập vào ngày 24/5/1989, ngân hàng phát triển nhà TP HCM được thành lập vào ngày 4/1/1990. Từ thực tiễn này, Quốc hội ban hành pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/5/1990 tạo điều kiện cho loại hình ngân hàng thương mại cổ phần phát triển đến ngày hôm nay.
      Giải pháp hạ tầng đô thị và các đóng góp khác
      Không chỉ tiên phong trong đổi mới mô hình kinh tế, TP HCM còn sử dụng quỹ đất đô thị như nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết bài toán phát triển đô thị với chủ trương đổi đất lấy hạ tầng; Thành lập các Cty cổ phần, huy động các thành phần kinh tế đầu tư vào hạ tầng, kỹ thuật của TP…
      Từ một khu đầm lầy, chua mặn, khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng phía Nam TP với một đại lộ dài hơn 18 km được hình thành cũng từ chủ trương, cơ chế này. Nhiều tuyến đường huyết mạch của TP được cải tạo, mở rộng bằng nguồn vốn tín dụng của DN thông qua hình thức chuyển nhượng quyền khai thác đường giao thông cho các thành phần kinh tế…
      TP cũng xây dựng, nâng cấp, mở rộng trường học, bệnh viện; đổi mới và hiện đại hóa trang thiết bị, nâng cấp dịch vụ giáo dục, phát triển y tế chất lượng cao bằng nguồn vốn tín dụng (vốn kích cầu); Xây dựng hệ thống các tổ chức giới thiệu việc làm, tổ chức các sàn giao dịch việc làm, xã hội hóa đào tạo nghề; xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động, phân tích và khai thác thông tin cung - cầu lao động trong từng khu vực, ngành nghề…
      Việc nhân rộng ra cả nước các mô hình kinh tế xuất phát từ ý tưởng của TP, được thí điểm thành công tại TP có ý nghĩa quan trọng với kinh tế cả nước.
      Trong những năm suy giảm kinh tế và lạm phát cao (năm 2008), Đảng bộ và Chính quyền TP đã sáng tạo, chủ động và thành công với chương trình bình ổn thị trường, góp phần kiềm chế lạm phát của cả nước. Trong những năm qua, chỉ số CPI của TP luôn thấp hơn mức bình quân chung của cả nước góp phần cải thiện đời sống nhân dân TP.
      Trong những năm gần đây, khi nợ xấu tăng cao, các DN rất khó tiếp cận vốn, TP đã triển khai chương trình kết nối DN với ngân hàng, giúp DN có được nguồn vốn tín dụng với lãi suất hợp lý và đáp ứng được nhu cầu vốn kinh doanh. Các chương trình xúc tiến đầu tư, kết nối DN với DN, các chương trình xúc tiến thương mại trong và ngoài nước, chương trình đưa hàng hóa Việt Nam về nông thôn, về các khu công nghiệp… đã được nhân rộng trong cả nước.
      Đặc biệt, TP đã thực hiện các nhóm giải pháp cải cách hành chính công: xây dựng nền hành chính mang tính chất phục vụ, mô hình “một dấu, một cửa”… 
      Thành công này của TP chứng minh vai trò quan trọng của Nhà nước và kinh tế Nhà nước trong mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là Nhà nước thực hiện chức năng hỗ trợ thị trường, không làm thay thị trường mà chỉ hạn chế những khuyết tật của thị trường, tham gia xử lý những bất ổn của thị trường.
      Thực tiễn và những thách thức đặt ra cho TP HCM cho thấy, để đạt được mục tiêu CNH-HĐH đất nước thì việc đổi mới cơ chế kinh tế theo hướng tôn trọng thị trường, tháo gỡ những rào cản cho thị trường phát triển lành mạnh, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và thuận lợi trong mọi thành phần kinh tế; cải cách mạnh mẽ nền hành chính quốc gia; hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh doanh phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là những yêu cầu rất bức thiết trong quá trình phát triển của đất nước.
      Bí thư Thành ủy TP HCM Lê Thanh Hải - Ủy viên Bộ Chính trị: 
      Tầm nhìn đô thị lớn trong khu vực ASEAN
      Quán triệt đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, TP HCM đã bám sát thực tiễn, luôn tìm tòi, sáng tạo, mạnh dạn thể nghiệm cơ chế, chính sách mới để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất phát triển, hình thành các loại thị trường, không ngừng cải thiện môi trường đầu tư, thu hút mạnh các nguồn lực xã hội cho phát triển.
      Trải qua các thời kỳ cách mạng, trong kháng chiến, trong xây dựng, bảo vệ và phát triển của chặng đường 40 năm qua, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân TP luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, của Quốc hội, Chính phủ, sự ủng hộ hết lòng và hiệu quả của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, của các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và sự giúp đỡ, liên kết, hợp tác của Thủ đô Hà Nội, của các địa phương, của Nhân dân cả nước. TP HCM luôn tự hào kế thừa lòng trung thành, phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang để xây dựng, bảo vệ và phát triển TP, nâng cao phúc lợi của nhân dân.
      TP HCM cũng luôn bám sát thực tiễn, từ thực tiễn TP đã góp phần tích cực hình thành đường lối đổi mới.
      Bảy năm sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, vào tháng 9 năm 1982, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 01 về phát triển TP HCM; tổng kết thực hiện Nghị quyết rất quan trọng này, khi công cuộc đổi mới ngày càng toàn diện, đi vào chiều sâu; vào những năm đầu của thế kỷ 21, tháng 11 năm 2002 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 20 và đến tháng 8 năm 2012 Bộ Chính trị tiếp tục ra Nghị quyết 16 xác định phương hướng phát triển TP HCM đến năm 2020. Từ những định hướng chiến lược hết sức quan trọng này, Đảng bộ, hệ thống chính trị và Nhân dân TP với sự nỗ lực không ngừng, kiên trì, quyết tâm thực hiện đã mang lại những thành tựu và cả những kinh nghiệm thực tiễn quý báu trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
      Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, dẫu không tránh khỏi những khó khăn, thách thức, thậm chí có những va vấp trên từng bước đi lên, nhưng đến nay, “TP Hồ Chí Minh đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, tạo sự chuyển biến căn bản trong đời sống xã hội, góp phần rất quan trọng vào thành tựu chung của vùng và cả nước” (Nghị quyết của Bộ Chính trị số 16-NQ/TW ngày 10 tháng 8 năm 2012). Những thành tựu đó góp phần khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta 30 năm qua là đúng đắn; đánh dấu sự trưởng thành trong năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ và quản lý, điều hành của chính quyền TP, sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn của các giai đoạn sau.
      Kinh tế giữ mức tăng trưởng cao liên tục nhiều năm, cơ cấu chuyển dịch đúng định hướng, quy mô được mở rộng, chất lượng tăng trưởng được cải thiện; kinh tế TP chiếm tỉ trọng ngày càng cao, đến nay chiếm hơn 21% GDP và có tốc độ tăng trưởng từ 1,6 đến 1,7 lần tốc độ tăng GDP của cả nước, đóng góp 30% ngân sách quốc gia.
      TP HCM là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút và sức lan tỏa lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước … Vị trí, vai trò của TP đối với vùng và cả nước ngày càng được khẳng định, đóng góp tích cực vào quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.” (Nghị quyết của Bộ Chính trị số 16-NQ/TW ngày 10 tháng 8 năm 2012). Và hiện nay, TP đang nỗ lực phấn đấu xây dựng, bảo vệ, phát triển TP văn minh, hiện đại, nghĩa tình, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đóng góp ngày càng lớn với khu vực và cả nước; từng bước trở thành trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ của đất nước và khu vực Đông Nam Á; góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của cả nước.  
      (Trích Phát biểu đề dẫn của Bí thư Thành ủy TP HCM Lê Thanh Hải - Ủy viên Bộ Chính trị tại Hội thảo Kỷ niệm 40 thống nhất đất nước được tổ chức tháng 4/2015 tại TP HCM)
      TS Trần Hoàng Ngân
      Đại biểu Quốc hội, Hiệu trưởng Trường 
      ĐH Tài chính - Marketing TP HCM

      Read More

      Liên Hệ

      ông ty cổ phần đầu tư giải pháp phát triển thị trường Phong Việt ( Phong Viet Group) Địa chỉ : 231-233 Lê Thánh Tôn, P.Bến Nghé, Quận 1, TP.HCM Điện thoại : 0904384505



      Share By BIT Theme Blogger